TÌNH ĐỜI - Bà mẹ thoát ra khỏi cảnh "lồng son"
Chuyện đời là mỗi cá nhân trải nghiệm trong cuộc sống. Tình đời là cách đối xử giữa người với người. Nơi trang báo này, xin kể cho nhau nghe những men vị của cuộc đời!

Xem lại phần trước trong báo kỳ trước

   Ngôi nhà nằm trên một ngọn đồi thoai thoải ở Dural – vùng ngoại ô phía tây bắc Sydney – rộng lớn, sang trọng và im lìm như một tòa biệt phủ. Với người ngoài, đó là biểu tượng của thành công, của một gia đình Việt kiều “ăn nên làm ra”.Nhưng với bà Ngoan, người phụ nữ đã ngoài sáu mươi lăm, ngôi nhà ấy giống như một chiếc hộp khóa kín, nơi bà sống lặng lẽ như một cái bóng, không tiếng nói, không quyền lựa chọn, không cả một góc nhỏ để thở.

   Bà sang Úc theo diện bảo lãnh của con trai (như đã thuật ở số báo trước). Ngày cầm tấm visa trên tay, bà đã khóc vì mừng. Bà nghĩ: “Vậy là tuổi già mình có nơi nương tựa, có con cháu sum vầy.” Bà từng hình dung những buổi chiều dắt cháu đi công viên, những bữa cơm gia đình ấm cúng, những ngày tháng bình yên sau cả đời lam lũ.
   Nhưng đời không giống những gì bà mơ
   Ngay ngày đầu đặt chân đến Sydney, con trai bà – đứa con mà bà từng nâng niu, từng nhịn ăn nhịn mặc để nuôi nó học hành – đã lấy hộ chiếu của bà “để giữ giùm cho an toàn”. Rồi nó giữ luôn cả tiền bà mang theo. Điện thoại của bà cũng bị thu lại với lý do “mẹ lớn tuổi, dùng không quen, để con lo”.

   Từ đó, bà sống trong căn nhà rộng thênh thang mà chẳng khác gì bị cấm túc. Bà không được ra ngoài một mình. Không được gọi điện thoại về Việt Nam. Không được tiếp xúc với ai ngoài gia đình nhỏ của con trai.

   Trong chiếc lồng son ấy, bà trở thành người giữ nhà, người trông cháu, người làm việc không lương. Mỗi ngày, bà thức dậy lúc 5 giờ sáng, lặng lẽ vào bếp nấu bữa sáng, giặt đồ, dọn dẹp, lau nhà, rồi trông đứa cháu nội mới ba tuổi – đứa bé sợ mùi dầu cù-là bà hay xoa lên đầu gối đau nhức, nên cứ thấy bà lại nép vào mẹ nó. Bà muốn ôm cháu, muốn thủ thỉ chuyện trò, nhưng đứa bé cứ tránh xa, còn con dâu thì lạnh nhạt, khó chịu, nói bóng gió rằng bà “không hợp vệ sinh”, “không biết chăm trẻ kiểu Tây”.

   Lời ấy như những nhát dao nhỏ, không làm bà chảy máu nhưng cứa vào lòng bà từng chút một.

   Buổi tối, khi cả nhà đã ngủ, bà mới có chút thời gian cho riêng mình. Bà ngồi ở góc phòng bếp, nhìn ra khu vườn tối om, nhớ quê, nhớ xóm làng, nhớ những người bạn già hay ngồi uống trà trước hiên. Bà nhớ tiếng rao đêm, nhớ mùi khói bếp,nhớ cả tiếng gà gáy mỗi sáng. Ở đây, mọi thứ đều sạch sẽ, hiện đại, tiện nghi – nhưng lạnh lẽo đến tê người.

   Bà từng muốn nói chuyện với con trai, muốn hỏi vì sao nó đối xử với bà như vậy. Nhưng mỗi lần mở miệng, bà lại nhìn thấy vẻ mặt căng thẳng của nó, nghe giọng nó gắt lên: “Mẹ đừng làm phiền tụi con. Ở đây khác Việt Nam. Mẹ cứ ở nhà, đừng đi lung tung.”

   Thế là bà im lặng. Bà sợ làm phiền con. Sợ con dâu khó chịu. Sợ gia đình nó rối ren. Sợ người ta nói bà già rồi còn gây chuyện.

   Bà chọn cách "phải chọn"
   Một buổi chiều nọ, khi con trai và con dâu đưa cháu đích tôn của bà đi học bơi, bà tranh thủ mở cửa sau, bước ra ngoài. Bà không có điện thoại, không biết đường, nhưng bà chỉ muốn hít thở chút không khí tự do. Bà đi men theo hàng rào, rồi ra con đường nhỏ thoai thoải dẫn xuống khu đông nhà.

   Bà đi chậm, vừa đi vừa run. Bà sợ bị phát hiện. Sợ lạc. Nhưng đôi chân bà cứ bước, như thể chúng đã chờ khoảnh khắc này từ lâu.

   Đi được một đoạn, bà nghe có ai đó từ phía sau nói tiếng Việt. Bà quay lại, đó là một nhóm phụ nữ trung niên đang dắt một bé gái chừng năm tuổi. Bà đứng khựng lại, nước mắt tự nhiên trào ra. Tiếng Việt – thứ âm thanh thân thuộc mà bà đã bị tước mất suốt mấy tháng trời nay.

   Bà trung niên nhìn thấy bộ dạng khép nép của bà, chạy lại hỏi:
     – Bác đi lạc hả bác?

   Bà không trả lời được. Bà chỉ khóc. Khóc như một đứa trẻ bị bỏ rơi.

   Người phụ nữ ấy đưa bà đến ngồi trên ghế ở công viên nhỏ sau một khúc quanh sang con đường gần đó, cho bà chai ly nước suối, rồi hỏi han. Bà kể câu chuyện của mình – đứt quãng, run rẩy, xấu hổ. Bà sợ bị nghi bà bịa đặt. Sợ trách bà không biết dạy con. Nhưng bà trung niên không trách, chỉ lắng nghe, rồi nắm tay bà thật chặt.

   Bà ấy nói:
     – Bác ơi, bác không cô đơn nữa đâu. Để tôi tìm cách giúp bác.

   Từ hôm đó, cuộc đời bà đổi khác.

   Bà trung niên nói bà đi theo để bỏ cháu ở nhà, rồi dẫn bà đến trạm xe buýt, đưa bà ra khỏi vùng xa vắng, đến khu có đông người Việt ở. Tại vùng đó, nơi văn phòng của hội phụ nữ thuộc cộng đồng, chỉ nội vài tiếng đồng hồ, nhiều đồng hương đã đến hỏi han và giúp bà tìm chỗ ở tạm, giúp bàliên lạc với những người làm thiện nguyện.

   Bà bắt đầu đi rửa chén thuê cho một nhà hàng Việt, lặt rau, phụ bếp. Công việc vất vả, lương ít, nhưng bà thấy
mình sống lại. Bà được nói tiếng Việt, được nghe tiếng cười, được làm việc bằng chính đôi tay mình.

   Bà không còn bị nhốt trong căn nhà lạnh lẽo ấy nữa. Mà thực sự, bà không hề biết gì nữa về gia đình con trai bà. Chúng không hề tìm kiếm bà. Bà còn có gì quý giá mang theo người nữa đâu mà chúng tìm; không chừng một trong những người thân đó của bà, có người lại nói “Bà đi cho rảnh nợ”.

   Nhưng mỗi tối, khi nằm trên chiếc giường nhỏ trong căn phòng ở đậu, bà vẫn nghĩ về con trai. Bà nhớ nó lúc còn bé, nhớ những ngày hai mẹ con ăn cơm với nước mắm mà vẫn cười. Bà nhớ những lần nó bệnh, bà thức trắng đêm chăm. Bà nhớ cả những lời nó từng nói khi mới sang Úc: “Con sẽ lo cho mẹ.”

   Bà không hiểu vì sao nó thay đổi. Hay nó chưa từng thay đổi, chỉ là bà không nhận ra.

   Nhiều người khuyên bà nên kiện, nên báo cảnh sát, nên đòi lại quyền lợi. Nhưng bà lắc đầu:
     – Nó là con tôi. Tôi không muốn nó phiền phức.Tôi chỉ cần được sống yên.

   Bà nói câu ấy nhẹ như gió, nhưng ai nghe cũng thấy nghẹn.

   Giờ đây, bà sống nhờ vào sự cưu mang của cộng đồng. Bà làm việc mỗi ngày, dành dụm từng đồng để gửi về quê cho người chị gái già không chồng, không con. Bà không dám mơ đến việc lấy lại hộ chiếu hay tiền bạc. Bà chỉ mong được bình yên, được tự do đi lại, được nói chuyện với đồng hương, được sống như một con người.

   Thỉnh thoảng, bà vẫn gặp những người mới sang Úc, những người còn bỡ ngỡ. Bà kể câu chuyện của mình, không phải để than thở, mà để nhắc họ rằng: “Ở đâu cũng có người tốt, người xấu.

   Nhưng nếu mình gặp chuyện, đừng im lặng. Cộng đồng sẽ không bỏ mình.” Bà nói câu đó bằng tất cả sự biết ơn. Và bằng cả nỗi buồn không bao giờ nói hết.

   Một buổi chiều cuối tuần, khi bà đang lặt rau sau bếp nhà hàng, một bé gái chạy vào, chìa cho bà một viên kẹo:
     – Bà ơi, con cho bà nè.
   Bà nhìn đứa bé, mỉm cười. Nụ cười hiền, nhưng sáng như nắng.

   Bà nhận ra: dù cuộc đời có khắc nghiệt, vẫn còn những điều nhỏ bé giữ người ta đứng vững – một viên kẹo, một bàn tay nắm lấy tay mình, một tiếng nói quen thuộc giữa xứ người.

   Bà không biết tương lai sẽ ra sao. Nhưng bà biết mình đã tìm lại được điều quan trọng nhất: một cộng đồng để nương tựa, và một chút tự do để sống phần đời còn lại. Bà vững lòng và tư tin hơn.

Dân Việt News