Năm 1954, tôi chỉ là một đứa trẻ lên 10 nhưng đã phải làm mọi thủ tục để “đưa” mẹ, chị và hai em lên tàu Hope
vô Nam, từ cảng Hải Phòng, trong ngày cuối của cuộc di cư vĩ đại khi Hiệp định Genève được ký để quyết định về số phận nước Việt - bố tôi là nhà giáo đã di tản vào Sài Gòn trước đó vài tháng.


Khoảng 9 giờ sáng sau ba đêm, bốn ngày, tàu cặp bến Bạch Đằng. Một khung trời xa lạ hiện ra trước mắt tôi: Nhà cao tầng sừng sững, không khí oi bức bất thường, rừng người nhốn nháo đứng dưới đất vẫy tay chào đón. “Hành khách” trên tàu chen lấn qua cầu thang hẹp để xuống, tay dắt con, đầu đội thùng hoặc thúng chứa đựng tất cả gia sản mình mang theo. Trong túi tôi có vài viên bi vo tròn bằng đất mà tôi lấy từ Vườn Hoa Con Cóc nằm
dọc phố Bonard, để kỷ niệm hay đúng hơn để có được “mảnh hồn quê hương” luôn sát bên mình.


Giữa tiếng ồn ào gọi nhau ơi ới, người thấp người cao lố nhố, thật khó bắt gặp gương mặt người thân. Phải mất gần tiếng đồng hồ, chúng tôi mới được trực diện bố - trên tay cằm một xâu bánh hình tháp – sau này, tôi biết đó là loại bánh ú gói bằng lá tre.


Bố tôi tất tưởi, tay phải nắm tay vợ, tay trái nắm tay con út, cố lách ra khỏi nơi người đông như kiến! Tất nhiên, ba chị em tôi bám sát gót kẻo lạc.


Ra khỏi rừng người, hít thở một hơi dài, tôi thấy lòng lâng lâng nhìn cảnh quan rộng rãi, bầu trời tươi sáng so với nét ảm đảm của tháng Tám ở Hải Phòng. Bố đã mướn xe chờ sẵn để đưa chúng tôi về nhà.


Tôi ngơ ngác nhìn chiếc xe do ngựa kéo. Nó có vẻ chồng chềnh khi mọi người leo lên, ngồi bó gối trên nền xe chải chiếu.

 

Bố tôi bảo tôi ngồi phía sau, thả thòng đôi chân, nhìn ngược chiều xe chạy. Với tuổi thơ bấy giờ, tôi kinh ngạc trước sức chịu đựng của chú ngựa sắc nâu, màu da bóng, bờm mượt mà. Chỉ một con ngựa phải kéo cỗ xe khung gỗ, hai bánh có liềng sắt tròn to hơn hai cái nia, chở bảy người gồm sáu thành viên của gia đình chúng tôi
và ông cầm dây cương, điều khiển ngựa.


Tiếng xe ngựa lốc cốc, lộc cộc chạy qua khu chợ Bến Thành, vượt ngã tư đường Chasseloup-Laubat (khởi sự từ
năm 1865, được đổi tên Hồng Thập Tự, và hiện tại là Nguyễn Thị Minh Khai), qua đường Verdun (khởi sự từ năm 1916, được đổi thành đường Lê Văn Duyệt, và ngày nay là Cách Mạng Tháng Tám).


Nhờ ngồi ngược chiều xe chạy nên khung cảnh hai bên đường kéo dài trong tầm mắt tôi một cách chậm chạp, khiến sự chiêm ngưỡng của tôi được kéo dài. Tiếng xe thổ mộ được nghe lần đầu khi đặt chân lên đất miền Nam là một âm thanh trầm tích trong tiềm thức tôi, không thể phai mờ… lộc cộc, lốc cốc, lộc cộc…


Ngồi thòng chân, xe lắc lư… một chiếc xăng-đan của tôi rơi mất lúc nào tôi cũng không hay biết tạo thêm kỷ niệm chỉ một lần duy nhất ngồi trên xe thổ mộ lặng lẽ đi theo dòng đời thay đổi.


Tôi được nghe kể, người miền Nam gọi chiếc xe ngựa chở khách là xe thổ mộ là do cái mui xe cong cong nhìn như mả đất. Xe thổ mộ được người Việt Nam biếu tấu từ xe ngựa của người Pháp.


Xe ngựa đầu tiên xuất hiện ở Sài Gòn vào những năm 1869 – 1870 khi những dân sự thân cận của chính quyền Pháp sang Sài Gòn làm ăn, họ mang theo những xe song mã để tiện di chuyển. Đó là loại xe có khung gắn cửa kiếng nên người dân quen gọi là “Xe Kiếng”. Dần dà, phương tiện này không chỉ là hình thức di chuyển cá nhân của người châu Âu mà lan dần vào hệ thống giao thông của đô thị mới hình thành mặc dầu đặc biệt phục vụ giới
thượng lưu và quan quyền người Pháp.


Vào đầu thế kỷ XX, trên những con đường đất đỏ, loại xe thổ mộ dân dã của Nam Bộ bắt đầu xuất hiện và trở nên phổ biến từ Sài Gòn đến Lục Tỉnh. Chiếc xe thổ mộ mà tôi được ngồi để đi từ bến tàu Bạch Đằng về nhà ở khu Hòa Hưng trên đường Verdun năm ấy là xe ngựa tiêu biểu của những năm đầu cho đến những năm cuối. Xe thổ mộ là loại xe hai bánh lớn, xê dịch trên đường nhờ sức kéo của một con ngựa. Khung xe bằng gỗ, mái cong như mu rùa hay nấm mộ đất, lòng xe đủ chỗ cho sáu người ngồi mặt đối mặt. Ngoài ra, phần mui và thành xe có thể buộc thêm hàng hóa. Người đánh xe ngựa (hay còn gọi là “xà ích”) ngồi vắt vẻo trên càng xe phía trước - nơi con ngựa được mang ách lọt gọn gang giữa hai càng - tay cầm dây cương, mắt dõi theo nhịp vó ngựa. Tiếng lục lạc leng keng trên cổ con vật như tiếng nhạc quen thuộc dọc lối phố thị.


Nhà văn quá cố Sơn Nam cho biết nguồn gốc xe thổ mộ trong tác phẩm của ông lúc sinh thời: “Xe kiếng quá sang trọng và nặng nề, chỉ chở được 4 người. Ông cha ta bèn nghĩ ra cải tiến xe kiếng thì tôi cho đây là sự sáng tạo kỳ diệu của đồng bào miền Đông để phục vụ Sài Gòn. Ta mới chế ra một thứ xe, đặt tên là xe thổ mộ”.


Cũng có người cho rằng tên gọi xe thổ mộ xuất phát từ cách đọc trại của từ “thụ mã” (受 傌 - chỉ xe ngựa kéo) trong tiếng Hoa – thành “thụ mạ” rồi thành “thổ mộ”.


Xe thổ mộ hòa nhập trong đời sống người Sài Gòn cách êm ả - khắp 9 quận của Đô thành. Nó cũng chuyên chở bạn hàng từ Hóc Môn, Bà Quẹo, từ Đức Hòa, Phú Lâm, từ Nhà Bè, Khánh Hội, từ Gia Định, Bà Chiểu, từ Thủ Đức, Hàng Xanh, vượt qua cầu dốc lẫn đường bằng, về chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Muối, chợ An Đông, chợ Tân Định hoặc chợ Thị Nghè.Mỗi chiếc thổ mộ là một phần nối dài của chợ. Thân phận ngựa im lặng trong cực nhọc không gầm gừ, thi thoảng chỉ thở hắt ra một tiếng “phì” khô khan.

 

Theo tuổi đời lớn lên, xe ngựa đã trở thành hình ảnh quen thuộc khi tôi cuốc bộ đến trường hay cố đạp xe vượt qua. Nhìn các bác xà tích tay giật cương, tay đánh nhẹ trên thân ngựa, miệng “họ, họ” lúc chạy phăng phăng, lúc tắp vào bên đường để lấy khách hoặc cho khách xuống… tôi thấy lòng mình xót xa. Một thân ngựa thon thon, bốn chân khẳng khiu, vai gầy, đầu cúi gập phải kéo cỗ xe chở đầy người, cộng thêm hàng hóa ràng buộc trên mui, trên hai thành xe hẳn chẳng nhẹ gì. Ngựa cứ làm việc như thế suốt ba, bốn tiếng.


Dù đa phần chủ xe thổ mộ đều lấy bạn hàng để chuyên chở bông, trầu cau, rau trái làm nguồn sống chính, song cũng có lúc nhận đưa học trò, giúp người cần đi lại trên đoạn đường ngắn và đôi khi được mướn chở đồ đạc, giường chiếu của vụ dọn nhà. Suốt những năm xe Lam chưa xuất hiện, xe thổ mộ là phương tiện di chuyển tiện ích nhất, không thể thiếu dù giữa chốn phồn hoa đô thi như Sài Gòn vì giá đi rẻ hơn nhiều so với xích lô đạp hay xích lô máy.


Tuy nhiên, thời vàng son của xe ngựa không thể kéo dài. Từ thập niên 1960, xe thổ mộ dần chịu sức ép của đô thị hóa. Đường sá mở rộng, xe gắn máy và xe lam, xe buýt xuất hiện. Chính quyền đô thị khi ấy bắt đầu có chủ trương hiện đại hóa phương tiện công cộng. Đến năm 1972, bến xe thổ mộ Bà Quẹo chính thức ngừng hoạt động, đánh dấu hồi kết cho thời vàng son của loại hình giao thông này tại Sài Gòn.


Hồi tưởng lại ký ức, với tôi dù chỉ đi xe thổ mộ một lần duy nhất, nhưng bề dáng đơn sơ của xe thô mộ mà công dụng thì nhiều, hình ảnh kham khổ của bác xà tích gương mặt lúc nào cũng vui tươi vồn vã với bạn hàng; thân ngựa không mập mạp nhưng vó ngựa vẫn rộn rã trên đường… tất cả vẫm im đậm trong tâm trí tôi.


Cũng có người tâm sự rằng “Hồi đó, đi xe thổ mộ vui lắm, xe nào cũng có hai cái càng xe để khách móc guốc lên đó vì thời xưa bình dân thì đi guốc. Xe đi trên đường cứ nghe cộc cộc, ấn tượng lắm. Trên thùng xe thổ mộ có trải 1 chiếc chiếu, cứ leo lên ngồi đi. Xe thổ mộ phổ biến nhất vì giá đi rẻ hơn nhiều so với xích lô, chỉ cần tiền cắc. Còn đi xe xích lô thì phải trả tiền đồng”.


Được biết, sau năm 1975, do thiếu nhiên liệu và thời thế khó khăn, xe thổ mộ từng tái xuất trong một thời gian ngắn tại một số vùng ven thành phố. Nhưng rồi, cùng với sự phát triển của giao thông cơ giới, tiếng vó ngựa cũng dần im bặt. Từ năm 2000 trở đi, hình ảnh xe ngựa đã tuyệt tích khỏi đường phố “Sài Gòn, Lục Tỉnh”. Lịch sử vận tải đường bộ VN sang trang.


Nhân dịp năm Bính Ngọ đến, ngồi suy gẫm chuyện đời và tình đời, tự nhiên hoài niệm về xe thổ mộ dâng trào để nhớ nhớ, thương thương.

Dzoãn Điền - Sydney 2026