CẢM HỨNG ĐỂ VIẾT TIỂU THUYẾT “CU CHÍ – CU PHONG” LÀ TỪ NHÂN VẬT JD VANCE
Cu Chí – Cu Phong là tiểu thuyết tự truyện. Thạc sĩ Nguyễn Văn Phong, một nhà khoa học, một doanh nhân vi cuộc đời trải qua nhiều nghịch cảnh, đã không đầu hàng mà vươn lên bằng đôi chân trần. Nhân vật Cu Chí – Cu Phong là hình ảnh ẩn dụ về chính tác giả: một đứa trẻ bị định kiến vùi dập, nhưng không sờn lòng, nản chí mà tận dụng năng lực và sức phấn đấu liêm chính giữa dòng đời sỏi đá để trở thành người kiến tạo giá trị cho xã hội.
Theo tác giả, tiểu thuyết là một hành trình thật – không tô vẽ – đầy nước mắt, nghị lực, và khát vọng sống. Nhân vật là chủ thể, không đổ lỗi cho thời thế, không tìm cách biện minh nhưng xác định giá trị và vì giá trị mà bươn tới để đạt lấy giá trị.
Ông muốn chia sẻ một bài học Phong để hiểu rõ tâm tình của ông sống động cho những ai từng bị bỏ trước khi khám phá các bí kíp thành lại phía sau, nhưng vẫn ước nguyện đạt của ông được trình bày rõ ràng, và có ý chí để làm chủ chính cuộc mạch lạc nhưng không kém phần thực đời mình. Hãy đọc Cảm hứng và Lời Tự sự của Thạc sĩ Nguyễn Văn Phong để hiểu rõ tâm tình của ông trước khi khám phá các bí kíp thành đạt của ông được trình bày rõ ràng, mạch lạc nhưng không kém phần thực tiễn, sôi động trong tác phẩm Cu Chí – Cu Phong.
Cu Chí - Cu Phong
----------------------------------------------------------------------------
- À, đó là mã số thư bảo đảm T700.000, chứ không phải tiền đâu con. Có thể lúc đó hết giấy lĩnh bưu phẩm, nên nhân viên lấy tạm mẫu giấy lĩnh tiền để kịp chuyển.
Tôi chết lặng, quay ra cửa, đạp xe về với lòng nặng trĩu. Mở thư ra, thấy dòng chữ của Phụng – em của Mộng Loan:
“Anh Phong học trong Sài Gòn, xem có việc gì làm không, xin dùm em với!”
Bạn bè trong phòng nhìn nhau nhịn cười. Rồi có đứa trêu: "Lỗ mấy dĩa cơm, cà phê sữa với thuốc Chuông Vàng rồi đó! Thôi, yên tâm, tụi này sẽ đãi bù cho mày theo kiểu mỗi đứa dắt mày đi ăn sáng một lần"
Một tuần sau, tôi lên khu Cầu Băng Ky – Bình Thạnh, xin cho Phụng học nghề may.
Chưa dừng lại ở đó, có năm tôi may mắn nhận được học bổng của Báo Tuổi Trẻ, do anh Võ Quốc Thắng – Tổng Giám đốc Gạch Đồng Tâm – trao tặng.
Học bổng trị giá 1.5 triệu đồng, tương đương hơn ba chỉ vàng thời điểm ấy. Cầm tiền chưa kịp nóng tay, tôi đã nghĩ đến chuyện mời bạn bè một bữa. Nhưng bất ngờ, em gái út tìm đến trường Đại học - nơi tôi đang ở tạm trong căn nhà xác của trường. Nó đội cái nón có lưỡi trai gãy đôi che kín mắt, ôm theo một trái đu đủ lớn bị dơi ăn mất cả chỏm đầu. Giọng nó líu ríu:
- Em đọc thư, anh Phong hay gửi cho Ba. Nên em vô đây, để xin đi làm hoặc đi học gì đó.
- Trời ơi, anh còn đang là sinh viên năm thứ ba. Phải hai năm nữa mới tốt nghiệp. Em vô đây biết học gì, làm gì? (tôi giật mình)
Nhìn đứa em côi cút – mất mẹ khi em mới ba tháng tuổi, thân gái dại khờ, không bương chải được như con trai – lòng tôi thắt lại. Thế là, số tiền học bổng chưa kịp dùng cho bản thân đã được chuyển hết cho em. Tôi đưa nó ra Thủ Đức học nghề may, rồi hằng tháng chu cấp thêm tiền sinh hoạt. Nguồn thu từ việc dạy kèm vốn chỉ đủ cho tôi xoay sở, nay phải chia sẻ cho em.
Muốn bù lại, tôi đành tăng ca dạy thêm, đồng nghĩa với việc đến lớp ít hơn. Cuộc sống sinh viên vốn đã chật vật, giờ lại gánh thêm đứa em gái côi cút. Nhưng rồi, anh em nương tựa nhau, dìu dắt nhau mà vượt qua.
Tôi ít khi kể những khó khăn về cuộc sống của mình cho bạn bè, và chưa từng vay mượn ai một đồng. Bởi tôi biết, sinh viên thời đó, ai cũng khổ. Hơn nữa, phận nghèo, chỉ cần một lời nhờ vả, dễ bị người ta nhìn khác đi, bị đẩy ra khỏi những cuộc vui.
Tôi tự mình chịu đựng, chỉ có Oanh – cô bạn gái năm ấy – là người duy nhất hiểu hoàn cảnh tôi, biết tôi vừa học vừa gánh thêm em gái, nên luôn động viên và khích lệ.
Sinh viên thời ấy nghèo nhưng trong sáng – từ vật chất đến tâm hồn.
Năm năm đại học trôi qua với bao thăng trầm, nhưng chất chứa đầy khát vọng. Một trang đời mới đang chờ mở ra, khi trong tay tôi có một chuyên môn được đào tạo bài bản. Và rồi, ngày ấy cũng đến – ngày tôi tốt nghiệp Đại học, rồi tiếp tục con đường Cao học.
Ra trường, tấm bằng chuyên môn cao trong tay chưa phải là dấu chấm hết cho chuỗi ngày gian khó, mà chỉ là cột mốc khởi đầu cho một hành trình mới.
Tôi bước ra khỏi cánh cổng đại học với hành trang là kiến thức chuyên môn cao, một tấm lòng đủ chín bởi trải nghiệm nhiều thử thách. Một khát vọng và niềm tin vững vàng về ngày mai tươi sáng.
Những tháng năm sinh viên, khốn khó mà sáng trong, vất vả mà giàu tình nghĩa, đã trở thành ký ức không bao giờ phai, làm nền móng để tôi đủ sức đi tiếp giữa dòng đời nhiều bão giông.
Chương 9
HÀNH TRÌNH LÀM VIỆC
9.1: Làm việc tại Phòng Nông nghiệp Cần Giờ
Tốt nghiệp đại học, tôi ở lại trường cùng thầy – Tiến sĩ Nguyễn Văn Kế – thực hiện một số đề tài khoa học về giống cây ăn quả và rau hoang dã tại Việt Nam. Công việc tuy ý nghĩa nhưng không mấy hấp dẫn, đồng lương lại eo hẹp. Tôi quyết định rời trung tâm Sài Gòn, nhận công tác tại Phòng Nông nghiệp huyện Cần Giờ.
Hôm đi phỏng vấn, trời đổ mưa lớn. Con đường xuống Cần Giờ chưa được tráng nhựa, chỉ toàn đất đỏ lầy lội. Bùn đất quấn chặt vào bánh xe khiến xe kẹt cứng. Khi tôi đến nơi thì đã quá trưa. Thoáng nhìn có khoảng hai mươi lăm người cũng dự phỏng vấn. Người phỏng vấn là ông Phạm Vy Long – Trưởng phòng. Ông hỏi:
- Qua hồ sơ và qua Thầy Kế, tôi được biết chú Phong là người năng nổ, hoạt bát, có nhiều kỹ năng mềm. Vậy sao không ở lại trung tâm thành phố làm việc mà lại chọn Cần Giờ xa xôi hẻo lánh này?
Tôi đáp ngay, như nghĩ gì nói nấy:
- Dạ, em nghĩ chính những vùng xa xôi này mới cần đội ngũ có kiến thức. Ngoài ra, em tin chắc lương ở đây sẽ cao hơn, vị trí làm việc cũng phải hấp dẫn hơn. Vì vậy em đến tham gia phỏng vấn.
Ông Long cười, gật gù:
- Chú này thực tế! Tôi chấp nhận chú. Nhiều người khác cứ nói theo kiểu dân túy rằng muốn công tác để dâng hiến hy sinh vì quê hương giàu đẹp. Trong khi chú Phong lại nói thật lòng, rất thực tế. – Rồi ông hỏi tiếp: – Vậy chú thấy chức vụ nào phù hợp với mình?
Tôi mỉm cười:
Dạ, giống như đội mũ vậy. Mũ lớn quá thì đầu lọt, mũ nhỏ quá thì không vừa, nhìn nhăn nhúm. Tuy nhiên, ở chỗ anh có chức nào lớn nhất thì cứ giao em làm thử để kiểm chứng năng lực.
Ông cười phá lên:
- Cậu này khôi hài nhưng cũng chí lý. Chỗ tôi cao nhất chỉ có chức Trưởng phòng thôi. Chú có muốn thử không?
Tôi cũng cười:
- Em đến đây là để giúp Trưởng phòng hoàn thành công tác. Việc khó xin cứ giao em làm.
Thế là tôi chính thức trở thành nhân viên Phòng Nông nghiệp Cần Giờ. Nhiệm vụ: Quy hoạch các vùng trồng trọt cho từng nhóm cây trồng. Chuyển giao kỹ thuật trồng trọt và phát triển mô hình kinh tế hộ gia đình. Với mức lương 1.5 triệu đồng/ tháng – tương đương khoảng ba chỉ vàng lúc bấy giờ.
Theo ông Long, đây là mức lương đặc biệt huyện đưa ra để thu hút nhân tài về công tác, kèm theo cơ chế cấp đất, nhà ở và cơ hội thăng tiến, bởi Cần Giờ quá xa trung tâm thành phố và điều kiện lại quá khó khăn.
Hồi ấy, Cần Giờ còn hoang sơ, rừng đước xanh mướt, khỉ sống thành từng bầy đàn. Tôi đi khắp từng ngóc ngách: rừng sâu Lý Nhơn, An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp, đến tận đảo Thạnh An, Thiền Liền, biển Cần Thạnh… Phong cảnh hoang dã mà đẹp đến nao lòng, lại chỉ cách Sài Gòn không xa.
Trong mắt tôi, nơi này chính là “đòn bẩy” kinh tế cho ngành du lịch, một vùng đất “hái ra tiền”.
Nghĩ là làm. Ngoài công tác của Phòng Nông nghiệp, ngày nghỉ, tôi bắt tay nghiên cứu sâu về sinh thái Rừng Sác: từng loài thực vật, từng loài động vật, cả những cuộc chiến đã từng diễn ra nơi đây. Tôi dần trở thành người thuyết giảng về hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ.
Các công ty du lịch, các trường phổ thông và đại học ở Sài Gòn nhanh chóng tiếp nhận chương trình tôi gửi đi. Cần Giờ trở thành điểm đến cho các chuyến ngoại khóa về sinh thái rừng mặn. Tôi trở thành đầu mối đón tour, nhiều đoàn có đến bốn, năm trăm người. Họ được tham quan đảo Khỉ, tắm biển, du ngoạn Rừng Sác… Có thể nói, chính những chương trình đó đã đưa Cần Giờ thành điểm đến lý tưởng.
Thu nhập của tôi tăng lên đáng kể. Cứ mỗi thứ bảy, chủ nhật, tiền hoa hồng từ các đoàn du lịch gửi về cho tôi khoảng 3 triệu đồng. Mỗi tháng tôi có thể kiếm được 24 - 25 triệu, tức 5 - 6 cây vàng. Khi ấy, một chiếc xe DD của Nhật chỉ khoảng 4 cây vàng, còn điện thoại Nokia A82 giá 4.2 triệu.
Nhờ vậy, tôi trở nên “giàu có” hơn bạn bè cùng trang lứa. Bởi thời đó, kỹ sư làm cho nước ngoài cũng chỉ 200 - 300 đô la, còn lương công ty tư nhân hay nhà nước cũng chỉ 2 - 5 triệu đồng/tháng.
Chiếc DD đỏ và Nokia A82 bạc nhỏ nhắn, kêu “tin tin” trong túi quần kaki hiệu Nautica đã biến Phong thành “idol” trong mắt bạn bè cùng thời.
Tiếng lành đồn xa, tổ chức huyện biết chuyện. Ông Trung Lâm mời tôi sang trao đổi:
- Chú Phong đã làm một việc chưa ai từng làm, nhờ vậy Cần Giờ thêm nổi tiếng. Tổ chức muốn mời em sang làm thủ lĩnh Huyện Đoàn. Đây là trao đổi riêng, Phong cho ý kiến.
Tôi đáp:
- Em làm ở đâu không quan trọng, cốt là hoàn thành tốt công việc cấp trên giao. Nếu anh đã đề cử thì em thuận theo sắp xếp.
- Quan điểm của em về bố trí nhân sự? Ông Trung Lâm hỏi.
- Theo em, già - trẻ; Gái - trai; Thành phần nào cũng được, miễn họ có năng lực. Già lãnh đạo, trẻ cho rằng: Già không tiếp cận được kỹ thuật mới. Trẻ lãnh đạo, già cho rằng: Trẻ không có kinh nghiệm, sẽ gặp nhiều rủi ro. Vì vậy, bất luận đó là ai, nếu đó là hiền tài, thì nên để họ lãnh đạo.
Ông Lâm im lặng một lát rồi, gật gù và rót cho tôi ly trà.
Chức vụ được gợi ý là Thường vụ Huyện Đoàn – Phó Bí thư, sau đại hội sẽ là Bí thư Huyện Đoàn Cần Giờ.
Ngày đầu tiên nhận việc mới, tôi vừa bước vào hội trường ra mắt thì mọi người đồng thanh:
- Chào đồng chí 19/5!
Tôi ngượng ngùng chào lại, mà không hiểu vì sao họ gọi mình như vậy. Về sau mới hay, tôi được đặc cách kết nạp vào Đảng Cộng sản. Nhưng khi hồ sơ gửi về địa phương, chính quyền xã Bình Đào lại bác bỏ. Lý do: ba tôi từng là viên chức VNCH, Bí thư Quốc Dân Đảng ở địa phương. Họ bác hồ sơ, chờ Ban Tổ chức huyện Cần Giờ trực tiếp xác minh.
Dù còn trẻ, tôi cũng đủ hiểu về “chủ nghĩa lý lịch”, về sự hiềm khích và hận thù mà chính quyền địa phương dành cho ba tôi và những người con của ông – trong đó có tôi.
Tôi đệ đơn xin thôi việc và rút khỏi Huyện Đoàn Cần Giờ. Với lý do: Tôi yêu chuyên môn hơn. Tôi muốn quay về Trường Đại học Nông Lâm theo học Cao học ngành Crop Science.
Ông Trung Lâm – Trưởng ban Tổ chức – có gặp riêng và khuyên:
- Chuyện này không phải không có cách. Em cứ ở lại công tác, anh sẽ ra địa phương xác minh. Em yên tâm!
Tôi hiểu sự rộng rãi của người Nam Bộ, nhưng cũng hiểu rõ tính cục bộ địa phương. Nhất là khi ba tôi từng có 13 năm tù đày (3 năm tù tại núi Tiên Lãnh, 10 năm quản thúc tại địa phương). Vì vậy, việc sắp xếp vị trí cho một “hậu duệ VNCH” như tôi trong bộ máy nhà nước XHCN là điều không đơn giản, huống chi là vị trí lãnh đạo một Bộ phận là cánh tay phải đắc lực của đảng Cộng sản.
Tôi dứt khoát quay lại trường, tiếp tục học cao học với phương châm “vừa học, vừa làm”. và mỗi ngày, kỹ năng kiếm tiền từ các business nhỏ cũng được tôi luyện và dày dạn hơn.
Trong ký ức tôi, Cần Giờ mãi như một miền quê yêu dấu, đầy nghĩa tình – nơi giúp tôi kiếm được những đồng tiền đầu tiên từ một “busi- ness” du lịch nhỏ, tạo nền móng cho những dự án sau này. Người Cộng sản nơi đây rộng rãi và dễ mến hơn ở quê chôn nhau cắt rốn của tôi.
Dù có thể làm giàu nhờ du lịch, nhưng khác biệt về tư duy đã đẩy tôi ra xa, khép lại một chặng đường.
Những ngày ở Cần Giờ đã cho tôi một trải nghiệm quý báu: vừa được rèn luyện trong gian khó, vừa biết cách xoay sở để tự đứng vững bằng năng lực của mình. Cái “lửa nghề” trong tôi chưa bao giờ tắt, nhưng tôi cũng sớm hiểu rằng con đường học thuật và sự nghiệp khoa học mới là nơi tôi thực sự thuộc về.
Tạm khép lại một hành trình với nhiều thăng trầm, tôi bước sang một chặng mới, với quyết tâm trở lại giảng đường để tiếp tục học tập và chuẩn bị cho những thử thách lớn hơn đang chờ phía trước. ª
(Xem tiếp tuần tới)