
Tôi năm nay 59 tuổi, sống ở Úc đã bốn chục năm, đủ lâu để quen với cái lạnh cắt da củaMelb ourne, cái nắng chói chang của Perth, và cái kiểu người Úc nói “mate” như thể đó là dấu chấm câu. Nhưng sáng nay, khi mở TV, tôi thấy một tin khiến mình lạnh sống lưng theo nghĩa đen: Giáo sư Richard Scolyer qua đời vì ung thư não, vào ngày 7 tháng 6 năm 2026 ở tuổi 59. Tôi cùng tuổi đó.
Tôi ngồi lặng người trước màn hình. Một người đàn ông Úc, một nhà khoa học hàng đầu thế giới, người từng được Time vinh danh, người có trong tay mọi công nghệ y khoa tối tân nhất – vậy mà vẫn không thoát khỏi căn bệnh quái ác ấy. Tôi tự hỏi: Nếu một thiên tài như Giáo sư Scolyer còn không thắng nổi, một ông Việt bình thường như tôi thì sao?
Thế là tôi bắt đầu hành trình tìm hiểu về ung thư não – một hành trình mà tôi chưa từng nghĩ mình sẽ đi , nhưng lại không thể không đi, sau cátin sáng nay.
Ung thư não – kẻ thù thầm lặng trong hộp sọ chật chội
Tôi đọc được rằng mỗi năm Úc có khoảng 2,098 ca ung thư não mới, chiếm chỉ 1.2% tổng số ca ung thư, nhưng lại gây ra 3.1% số ca tử vong do ung thư – nghĩa là nó hiếm, nhưng cực kỳ nguy hiểm. Tỉ lệ sống 5 năm chỉ khoảng 24%.
Tôi ngồi nhẩm: 24% nghĩa là cứ bốn người thì chỉ một người sống qua năm thứ năm. Tôi tự hỏi, nếu chẳng may mình là một trong bốn người đó, liệu mình có nằm trong nhóm 24% hay 76% còn lại?
Ung thư não không phải là một bệnh mới. Những mô tả đầu tiên về khối u trong não đã xuất hiện từ thời Hippocrates, nhưng phải đến thế kỷ 19, khi giải phẫu thần kinh phát triển, người ta mới thực sự hiểu nó là gì. Và đến thế kỷ 21, dù MRI, PET scan, giải trình tự gen… đã tiến bộ vượt bậc, ung thư não – đặc biệt là glioblastoma
– vẫn gần như không thể chữa khỏi.
Tôi đọc thêm và biết rằng glioblastoma là loại u ác tính nhất, chiếm khoảng một nửa số u não. Nó lan nhanh, ăn sâu, và gần như luôn tái phát.Một nghiên cứu năm 2025 của Đại học Sydney cho thấy các tế bào ung thư này thậm chí có thể “mượn” một gene sinh sản PRDM9 để trốn hóatrị – như thể chúng có trí thông minh riêng.
Tôi thở dài. Một kẻ thù biết biến hình thì làm sao mà thắng?
Diễn tiến của căn bệnh – khi não bộ lên tiếng
Tôi nhớ lại vài tháng trước, mình có đôi lần đau đầu buổi sáng. Lúc đó tôi chỉ nghĩ do ngủ sai tư thế. Nhưng khi đọc rằng đau đầu buổi sáng,buồn nôn, co giật, tha y đổi tính cách… đều có thể là dấu hiệu của ung thư não, tôi bỗng thấy gai người.
Tôi không phải người hay lo xa, nhưng khi biết rằng tỉ lệ mắc ung thư não tăng theo tuổi, đặc biệt ở nhóm trên 80, và rằng từ 1982 đến 2021, tỉ lệ mắc ở người già đã tăng hơn ba lần, tôi thấy mình không còn trẻ để chủ quan nữa.
Ung thư não không giống ung thư gan hay phổi – nó không cần lớn để gây hại. Chỉ cần vài centimet thôi cũng đủ làm bạn nói lắp, nhìn đôi, hoặc quên mất tên người thân. Một khối u trong não giống như một vị khách không mời mà đến, ngồi ngay giữa phòng khách, và đòi chiếm hết chỗ.
Điều trị – cuộc chiến không cân sức
Tôi tìm hiểu về điều trị, và thấy rằng phác đồ chuẩn vẫn là:
• Phẫu thuật – cắt càng nhiều càng tốt
• Xạ trị
• Hóa trị bằng temozolomide
• Và gần đây là liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch trị liệu
Nhưng ngay cả khi làm tất cả những điều đó, glioblastoma vẫn tái phát gần như 100%. Các nhà khoa học gọi đó là “minimal residual disease” – những tế bào ung thư còn sót lại, ẩn nấp như du kích trong rừng, chờ ngày phản công.
Tôi đọc đến đây thì hiểu vì sao Giáo sư Scolyer – người đã thử nghiệm liệu pháp miễn dịch tiên phong – vẫn không thể vượt qua.
Chi phí – cái giá của sự sống
Tôi từng nghĩ Úc là nước giàu, Medicare lo hết. Nhưng hóa ra ung thư não là một trong những loại ung thư tốn kém nhất. Một báo cáo năm 2025 cho thấy gánh nặng kinh tế của ung thư não ở Úc rất lớn, không chỉ vì điều trị mà còn vì mất khả năng lao động, chăm sóc dài hạn, và hỗ trợ xã hội.
Tôi nghĩ đến những người nhập cư như mình – những người làm việc tay chân, tích cóp từng đồng. Nếu chẳng may mắc bệnh, liệu gia đình có chịu nổi không?
Người nhập cư và người sanh đẻ ở Úc – có khác biệt không?
Tôi tìm số liệu về sự khác biệt giữa người Úc gốc Âu và gốc Á, giữa người nhập cư và người sinh tại Úc. Dữ liệu cụ thể về ung thư não theo sắc tộc ở Úc khá hạn chế, nhưng xu hướng chung của các nghiên cứu quốc tế cho thấy:
• Người gốc Âu có tỉ lệ mắc glioblastoma cao hơn
• Người gốc Á có tỉ lệ thấp hơn một chút
• Nhưng khi đã mắc, tiên lượng không khác biệt nhiều
Tôi tự an ủi mình: “À, vậy là người Á mình có chút may mắn.” Nhưng rồi tôi lại nhớ: ung thư não hiếm, nhưng khi đã dính thì chẳng ai may mắn cả.
So sánh quốc tế – giàu hay nghèo đều không thoát
Tôi nhìn sang các nước khác. Một nghiên cứu toàn cầu cho thấy ung thư não và hệ thần kinh trung ương gây tử vong cao ở cả nước giàu lẫn nước nghèo.
Ở các nước giàu, người ta phát hiện bệnh sớm hơn, có MRI, có phẫu thuật vi phẫu, có xạ trị chính xác cao. Nhưng paradox thay, tỉ lệ tử vong vẫn cao vì glioblastoma quá hung hãn.
Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ mắc có thể thấp hơn – một phần vì dân số trẻ hơn, một phần vì… không được chẩn đoán. Nhiều người chết mà không bao giờ biết mình có khối u trong não. Tôi chợt nhận ra: ung thư não không phân biệt giàu nghèo. Nó chỉ cần một cơ hội – một đột biến gen – và thế là đủ.
Khi gấp laptop lại, tôi ngồi nhìn ra vườn sau. Cây chanh tôi trồng mấy năm nay đang còn sót lại những trái cuối mùa. Tôi nghĩ về Giáo sư Scolyer – một người đàn ông 59 tuổi, có gia đình,có sự nghiệp, có cả một đất nước biết ơn ông. Và rồi ông ra đi, lặng lẽ như bao bệnh nhân ung thư não khác.
Tôi cũng 59 tuổi. Tôi không phải giáo sư, không có phát minh nào để đời. Nhưng tôi có gia đình, có bạn bè, có những buổi sáng pha cà phê, có những chiều đi bộ dọc bãi biển. Tôi muốn sống thêm nhiều năm nữa để tận hưởng những điều nhỏ bé ấy.
Tin Giáo sư Scolyer qua đời khiến tôi sợ. Nhưng nó cũng khiến tôi biết ơn – biết ơn vì mình còn khỏe, biết ơn vì y học vẫn đang tiến bộ, biết ơn vì mỗi ngày thức dậy vẫn còn thấy ánh sáng.
Tôi tự nhủ: “Ngày mai mình sẽ đến bác sĩ gia đình (GP) để xin khám tổng quát. Không phải vì mình yếu đuối, mà vì mình muốn sống.”
BBT Dân Việt News
Tài liệu tham khảo
• Cancer Australia - Brain cancer statistics: số ca mắc, tử vong, tỉ lệ sống 5 năm tại Úc.
• Australian Institute of Health and Welfare - Brain cancer trends: tỉ lệ mắc tăng ở người cao tuổi, thay đổi theo thời gian.
• University of Sydney - Glioblastoma research (2025): cơ chế PRDM9 giúp tế bào ung thư trốn hóa trị.
• Brain Tumour Alliance Australia - The Australian Brain Cancer Landscape 2025: gánh nặng kinh tế và xã hội.
• Springer - Global burden of brain and CNS cancer: so sánh
