Ngựa là động vật rất gần gũi với người. Ngựa phục vụ các bậc cao sang quyền quý đến thứ dân áo vá; từ tướng quân chỉ huy ngoài trận mạc đến anh phu trạm đưa thư trong khu phố thời xưa. Ngựa được nhắc đến trong kinh điển nhà Phật và cả trong Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời. Nhưng ở mỗi nơi, ngựa được sử dụng khác mục đích, được mô tả hay xem là một biểu tượng theo từng vai trò riêng biệt.


NGỰA TRONG KINH TẠNG NHÀ PHẬT
Trong Phật giáo, kinh tạng có nhắc nhiều đến hình ảnh con ngựa để liên hệ đến con người. Nếu ngựa có ngựa kham, ngựa chứng thì tương tự người cũng có người hay, người dở. Khi Thái tử Tất Đạt Đa trên đường xuất gia tìm đạo đã cưỡi trên lưng ngựa Kanthaka (tên tiếng Phạn, cổ ngữ trong kinh Phật).


Kinh Tăng Chi Bộ, chương III, phẩm Gậy Thúc Ngựa ghi rằng:

“Có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: ‘Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?’”


Trong Luật Tạng kinh Vinaya Pikata có nói về 8 loại ngựa chứng tương ứng với tâm tánh của con người cần được sửa đổi.

Tám con ngựa được ràng vào xe, lãnh trách nhiệm dùng sức mình kéo cho xe di chuyển. Tánh khí mỗi con mỗi khác.
- Ngựa thứ nhất được tra hàm thiếc, bác xà tích (người đánh xe ngựa) cầm roi quật trên lưng ngựa nhưng nó vẫn hục hặc chẳng chịu nhích vó bước đi. Đây là bản tánh của người ngang bướng, muốn chống cự, hay cãi, điều gì cũng muốn chối.
- Ngựa thứ hai dáng vẻ hung dữ; nó đứng ì một chỗ, dựa thân vào càng xe, xa-ích thúc giục cách nào cũng im, nào có khác chi một người lầm lì không xác định khuyết điểm vừa được nói đến đúng hay sai.
- Ngựa thứ ba lồng lộng lên khi xà-tích thúc đi; nó làm dữ, vùng vẫy khiến ngã nhào xuống đất, làm gãy càng xe, bầm dập đầu gối, Hình ảnh này giống như người hay thù vặt, moi móc lỗi lầm của ai đó vừa chỉ ra điều mình sai trái.
- Ngựa thứ tư không nghe lời xà-tích kéo xe tiến tới mà lại thụt lui; chẳng khác gì một người không màng tới lời phải của ai đó vạch tội mình, khinh thường rồi quay mặt.
- Ngựa thứ năm nóng nảy chạy bừa bãi, bất kể đường xấu, làm cho hỏng xe ngay khi xà-tích vừa chê. Đấy là hình ảnh của người đem lòng oán hận ai đó kể ra lỗi của mình.
- Ngựa thứ sáu là ngựa hung dữ, bất kể roi của xà-tích, mặc miệng đang có hàm thiếc, cứ thế chạy càn; không khác gì người chẳng hề sợ mình lầm lỗi, chẳng biết nể sợ ai.
- Ngựa thứ bảy rất hung dữ, tỏ thái độ bằng cách dựng ngược hai chân, miệng sùi bọt mép. Đó là hình ảnh của một người giận dữ, khoa tay đá chân, la hét và thốt lời thô ác…
-  Và cuối cùng, ngựa thứ tám lồng lộn bứt đứt dây ràng khi bị xà-tích quất mạnh lằn roi vì bướng bỉnh. Nó bỏ đi giống như một người khi bị phê bình liền lớn tiếng xừng xộ, đạp bàn, xô ghế và đứng dậy bỏ đi…
Trong kinh Phật có câu “Tâm viên ý mã”.
Điều này dạy rằng:
• Tâm như con vượn: nhảy nhót liên tục, không đứng yên, chuyển từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác.

• Ý như con ngựa: chạy tán loạn, khó điều khiển, dễ bị lôi kéo bởi ngoại cảnh.
Người mà không kềm chế được “con vượn”, “con ngựa” ấy trong tâm trí mình thì rất dễ sanh chuyện – thiếu bình tĩnh trong giây phút đã có thể biến thành tai họa.


NGỰA TRONG KINH THÁNH
Trong Kinh Thánh, ngựa xuất hiện dày đặc, có trên 130 lần, phần lớn ở Cựu Ước. Ngựa được gắn liền với chiến tranh, quyền lực, sự phán xét và sự oai nghi của Đức Chúa Trời. Chỉ riêng Chúa Giêsu lại không hề nhắc tới con ngựa lần nào.
Có thể tóm lược thành ba tầng ý nghĩa về ngựa mà Kinh Thánh đề cập.
- Thứ nhất, ngựa là biểu tượng của chiến trận và quyền lực của con người. Trong thời Cựu Ước, ngựa là phương tiện thiết yếu nhất mỗi khi ra trận. Kinh Thánh thường nhắc đến ngựa như biểu tượng của sức mạnh quân sự:
“Ngựa sắm sửa về ngày tranh chiến; nhưng sự thắng trận thuộc về Đức Giê-hô-va.” (Châm ngôn 21:31).
“Kẻ nầy nhờ cậy xe cộ, kẻ khác nhờ cậy ngựa, nhưng chúng tôi nhờ cậy danh Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời chúng tôi.” (Thi Thiên 20:7)


Ở đây, ngựa đem đến lợi ích cho con người. Thiếu ngựa, chiến binh không thể xông pha nơi trận tuyến; xe không thể được di chuyền. Dường như con người đã phải dựa vào sức mạnh của ngựa - một thực thể vật chất trước mắt - mà quên đi rằng nguồn gốc của ngựa cũng là tạo vật của Đức Chúa Trời; sự quan phòng, bảo hộ con người cũng từ Chúa. Con người đã có niềm tin sai lầm vào sức mạnh vật chất.


Việc đề cập đến ngựa trong bối cảnh này, Đức Chúa Trời nhắc nhở con người hai điều rằng :
• Sức mạnh vật chất không bền vững – rồi thì 
con ngựa cũng già, cũng kiệt sức, cũng chết đi.

• Đừng để quyền lực làm mờ đi sự khiêm nhường trước Đức Chúa Trời.
Thắng trận là do Chúa cho phép. Chúa là Đấng trên hết để nương cậy.
-  Thứ hai, ngựa là biểu tượng của sự oai nghi và quyền năng của Thiên Chúa.
Sách Gióp, đoạn 29 chép rằng:
“22 Có phải ngươi ban sức lực cho ngựa, và phủ cổ nó lông gáy rung rung chăng? 23 Há có phải ngươi khiến nó nhảy búng như cào cào chăng? Tiếng kêu hí có oai của nó, thật đáng sợ. 24 Nó đào đất trong trũng, vui mừng về sức lực mình; nó xông tới đón quân cầm binh khí. 25 Nó khinh chê sự sợ, chẳng ghê điều chi; trước ngọn gươm nó không xây trở. 26 Trên nó vang tiếng gùi tên, giáo và lao sáng giới. 27 Nó lướt dậm, vừa nhảy vừa hét; khi kèn thổi nó chẳng cầm mình lại được. 28 Vừa khi nghe kèn thổi, nó bèn la: Hi! hi! Từ xa nó đánh hơi mùi giặc, nghe tiếng ầm ầm của các quan tướng và tiếng reo hô của chiến sĩ.” (câu 22-28)

Ngựa ở đây không đơn thuần là một con chiến mã, mà là sản phẩm của Đấng Tạo Hóa, mang vẻ đẹp, sự dũng mạnh và tinh thần bất khuất. Những điều này con người tạo ra cho ngựa ư? Không, hoàn toàn không. Ngựa là vật thọ tạo của Đức Chúa Trời.
- Thứ ba, trong sách Khải Huyền (sách cuối cùng của Kinh Thánh, phần Tân Ước), ngựa được đề cập khi mô tả về bốn kỵ sĩ cưỡi bốn con ngựa có màu sắc khác nhau gồm trắng, đỏ, đen và xám (theo bản Anh ngữ New International Version – NIV, trong bản Việt ngữ Truyền thống, in năm 1916, màu sắc của bốn ngựa này là bạch, hồng, ô và vàng vàng). Mỗi kỵ sĩ ngồi trên lưng ngựa có cầm một vật khác nhau như cung, gươm, cân và người cưỡi ngựa thứ tư chính là Tử thần bên cạnh là Âm phủ.


Mỗi con ngựa tượng trưng cho một bối cảnh. Trắng (bạch) cho sự chinh phục, đỏ (hồng) cho chiến tranh, đen (ô) cho đói kém và xám (vàng vàng) cho sự chết.


Như vậy, ngựa mang ý nghĩa là những lực lượng trên thế gian. Nó không còn là con vật, mà là biểu tượng của các chu kỳ lịch sử, của sự phán xét và tái tạo.


Bởi vậy, khi nói đến ngựa là minh chứng cho sự sáng tạo đầy quyền năng của Thiên Chúa. Vẻ đẹp của ngựa là lời nhắc về sự huy hoàng của Thiên Chúa – không có điều chi hơn được.


Tóm lại, Kinh Thánh và kinh tạng Phật dùng ngựa làm biểu tượng giáo huấn có phần khác nhau nhưng chung cuộc đều nhắm đến răn dạy con người.


Chúa muốn con người đừng ỷ vào sức mạnh của “chiến mã” mà quên đi sự oai nghi và quyền năng của Chúa. Sức mạnh của vật chất ở đời này rồi cũng tan.


Phật muốn mỗi người phải diệt được con ngựa "bất kham" trong lòng để vâng theo lời Phật dạy. Sự dữ đẩy con người vào cõi trầm luân.


Mong rằng năm Bính Ngọ 2026 đem ngựa đến với thế giới là một con ngựa khôn ngoan và thuần tính.

R. N., năm Bính Ngọ 2026