
TẾT CỦA NGƯỜI VIỆT - CUỘC NGẮT NHỊP THỜI GIAN ĐỂ LÀM MỚI ĐỜI SỐNG
Mỗi dân tộc đều có một cách bước sang năm mới. Với người Việt, đó không chỉ là khoảnh khắc chuyển giao của thời gian, mà là một chu kỳ văn hóa – tâm linh – xã hội được tích tụ qua hàng nghìn năm lịch sử.
Tết – khởi nguồn từ nhịp điệu của trời đất
Theo lịch pháp cổ truyền phương Đông, một năm được chia thành 24 tiết khí (Nhị thập tứ tiết), dựa trên sự vận hành của Mặt Trời và sự biến đổi của thời tiết, mùa màng. Mỗi mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông có sáu tiết khí, tạo nên một nhịp điệu tự nhiên hài hòa giữa trời – đất – con người.
Người Việt, với nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước, đã dựa vào sự “ngắt nhịp thời gian” ấy để sáng tạo nên các cái Tết, không chỉ như mốc thời gian, mà như những điểm dừng văn hóa để con người tự làm mới mình.
Cuối năm có Tết Nguyên Đán, đầu năm có Tết Nguyên Tiêu, giữa năm có Tết Đoan Ngọ, và khi năm đã đi gần hai phần ba thì có Tết Trung Thu.
Như vậy, bốn mùa đều có Tết, mỗi Tết mang một ý nghĩa riêng, nhưng Tết Nguyên Đán vẫn là cái Tết lớn nhất – rộn ràng nhất, sâu sắc nhất và cũng tốn kém nhất.
Tết Nguyên Đán – một chỉnh thể văn hóa hoàn chỉnh
Tết Nguyên Đán của người Việt không chỉ gói gọn trong ba ngày đầu năm. Trong đó, "Mùng một tết cha, mùng hai tết mẹ, mùng ba tết Thầy". Nghe thì ngắn ngọn, nhưng đó lại là một chu kỳ văn hóa hoàn chỉnh, hợp thành từ năm hình thái: nghỉ Tết – về Tết – lễ Tết – ăn Tết – chơi Tết.
Năm hình thái ấy đan xen, bổ sung cho nhau, tạo nên một không gian Tết vừa thiêng liêng, vừa đời thường, vừa sâu lắng, vừa rộn ràng.
1. Nghỉ Tết – khi con người thuận theo tự nhiên
Trước hết, Tết là để nghỉ.
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp. Khi vụ mùa chính trong năm đã khép lại, thóc lúa đầy bồ, cũng là lúc thiên nhiên bước vào giai đoạn khắc nghiệt nhất: gió mùa rét buốt ở miền Bắc, mưa bão dồn dập ở miền Trung, lũ lụt tràn đồng ở châu thổ sông Mekong.
Người nông dân tạm gác công việc đồng áng, chuyển sang những sinh kế phụ, chờ mùa mới. Rồi khi những ngày đông giá lạnh qua đi, nắng xuân hửng lên, cây cối cựa mình đâm chồi nảy lộc, ấy là lúc con người được phép dừng lại để nghỉ ngơi.
Nghỉ Tết, vì thế, không phải là lười biếng, mà là một sự nghỉ ngơi có tính toán, để tái tạo sức lao động, làm mới tinh thần và thể chất trước một chu kỳ mưu sinh mới.
2. Về Tết – hành trình tìm lại cội nguồn
Nếu nghỉ Tết là nghỉ cho thân thể, thì về Tết là trở về cho tâm hồn.
Dù đi làm ăn xa đến đâu, người Việt vẫn mang trong mình nỗi thôi thúc trở về quê nhà mỗi độ xuân sang. Về để sum họp gia đình, họ tộc; về để chạm lại mảnh đất đã sinh ra mình.
Đặc biệt, sự đoàn tụ trong Tết Việt không chỉ diễn ra giữa người sống với người sống, mà còn là cuộc gặp gỡ giữa hai cõi âm – dương. Trước Tết, người Việt đi tảo mộ, dọn cỏ, thắp nhang tưởng niệm tổ tiên. Đêm giao thừa, họ bày mâm cúng, thắp hương mời ông bà về ăn Tết cùng con cháu.
Về Tết cũng là về với quê hương, bản quán.Người đi xa mang quà về biếu bà con; người ở quê hào hiệp đáp lễ bằng nếp, đậu, cành mai, trái bưởi… để cái Tết nơi phố thị vẫn thấm đẫm tình quê.
Tết là để về nhà, thăm bà thăm ông.
Tết là để về nhà, thăm ba thăm mẹ.
Tết là để về nhà, thăm chị thăm anh.
Thăm vườn xưa, lối cũ ...
Nơi cánh cò, bay trắng cả giấc mơ
Nơi tuổi thơ, một thời ta đã
Nghe lời yêu khe khẽ bên tai
Nghe thời gian, ngưng lắng trong ta.
3. Lễ Tết – trật tự tâm linh của người Việt
Tết là thời điểm lễ nghi được thực hành đậm đặc nhất trong năm.
Từ lễ cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp, cúng tất niên, dựng nêu, rước ông bà, cúng giao thừa, cho đến các nghi lễ đầu năm như lễ chùa, viếng mộ, chúc Tết thầy cô, trưởng bối… tất cả tạo nên một trật tự tâm linh bền vững.
Mỗi nghi lễ đều nhắc con người nhớ rằng: mình không sống đơn độc, mà sống trong mối quan hệ với tổ tiên, cộng đồng và trời đất. Đến mồng Ba tiễn ông bà, mồng Bảy hạ nêu, một chu kỳ lễ Tết khép lại, nhường chỗ cho đời sống thường nhật.
4. Ăn Tết – ký ức ẩm thực của một dân tộc
Tết là dịp người Việt ăn uống đầy đặn nhất trong năm.
Có thể nghèo quanh năm, nhưng không khó trong ba ngày Tết. Những gì ngon nhất, quý nhất được dành dụm suốt năm đều được mang ra để nấu nướng, cúng kính và thết đãi.
Ẩm thực Tết không chỉ để ăn, mà còn để ghi nhớ bản sắc. Bánh chưng, bánh tét là kết tinh của nền văn minh lúa nước, gắn với truyền thuyết dựng nước và hành trình mở cõi. Nếu thiếu đi ẩm thực ngày Tết, di sản văn hóa ẩm thực Việt Nam hẳn sẽ không trọn vẹn như hôm nay.
5. Chơi Tết – niềm vui sau những tháng ngày nhọc nhằn
Sau lễ là và ăn và chơi.
Người Việt chơi Tết bằng đủ hình thức: đấu vật, đu tiên, đánh cờ, hát xướng, ngâm vịnh, du xuân. Cái chơi ấy không vô bổ, mà là sự giải phóng tinh thần sau một năm lao động vất vả.
Du xuân – vừa hành hương, vừa thưởng ngoạn cảnh đẹp – là nét độc đáo làm nên hồn cốt Tết Việt, cuốn hút mọi tầng lớp xã hội từ bao đời. Có nơi chơi hết tháng Giêng "Tháng Giêng là tháng ăn chơi"
Xuân 2026 – giữ Tết như giữ nhịp sống
Trong bối cảnh hiện đại, Tết có thể thay đổi về hình thức, nhưng giá trị cốt lõi vẫn còn nguyên: nghỉ ngơi – đoàn tụ – tri ân – sẻ chia – tận hưởng.
Giữ Tết không phải là níu kéo quá khứ, mà là giữ cho đời sống một nhịp thở nhân văn. Khi con người còn biết dừng lại, biết trở về, biết nhớ ơn và biết vui chơi đúng nghĩa, thì Tết vẫn còn nguyên giá trị.
Và chừng nào người Việt còn biết “ngắt nhịp thời gian” để làm mới mình mỗi độ xuân sang, thì Tết Việt vẫn sẽ là linh hồn của văn hóa Việt, bền bỉ đi cùng năm tháng.
Tôi là người gốc Quảng Nam,
Mỗi lần tết đến, lòng càng bâng khuâng
Bài chòi - nghe hát lâng lâng
Giọng quê em nói - từng vần không quên
Ưng về nhìn khói đồng lên
Thương mùa cúc tết vàng trên mắt người
Xa em thì đã xa rồi
Cuối năm vẫn nhớ Tết hồi quê xưa.
Quảng Thuận, 2026
