
Tôi năm nay đã bảy mươi lăm tuổi. Tính ra cũng hơn ba mươi năm rời quê hương, theo con cái sang Úc định cư. Đời người, càng lớn tuổi càng hay ngoái lại phía sau. Những ký ức cũ, tưởng đã ngủ yên, bỗng trở mình mỗi khi tôi nhìn thấy đám cháu nội ngoại của mình – những đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở xứ sở này, nói tiếng Anh như gió, còn tiếng Việt thì lơ lớ như khách du lịch. Điều làm tôi day dứt nhất không phải chuyện ngôn ngữ, mà là cái tình ông cháu sao mà nhạt nhẽo quá. Nó không giống chút nào với những gì tôi từng có với ông bà mình, hay với
chính các cháu ở Việt Nam ngày xưa.
Tôi vẫn nhớ như in những buổi chiều ở quê, thằng cháu đích tôn của tôi – lúc ấy mới bốn, năm tuổi – cứ nghe tiếng tôi ho ngoài sân là chạy ào ra, ôm chầm lấy chân ông, miệng líu lo: “Ông nội kể chuyện nữa đi!”. Tôi kể chuyện cổ tích, chuyện đời lính, chuyện bắt cá, chuyện tuổi thơ. Nó ngồi im thin thít, mắt tròn xoe, thỉnh thoảng lại cười khanh khách. Có hôm tôi dẫn nó ra công viên gần nhà, hai ông cháu đi bách bộ, rồi rủ nhau bắt chuồn chuồn, bướm vàng trong vườn. Nó chạy trước, tôi lạch đạch theo sau, lòng nhẹ tênh như trẻ lại. Mỗi lần tôi về quê, nó là đứa đầu tiên chạy ra cổng, ôm cổ tôi thật chặt. Tình cảm ấy, tôi cứ nghĩ là tự nhiên, là hiển nhiên, là thứ mà bất cứ ông cháu nào cũng có.
Nhưng sang Úc, mọi thứ khác hẳn
Ngày Giáng sinh, ngày Tết, ngày sinh nhật của cháu, tôi vẫn chuẩn bị phong bao lì xì, viết thiệp, mua bánh kẹo để sẵn. Tôi vẫn giữ thói quen của người Việt: “Có quà là có tình”. Nhưng khi con tôi nài nỉ tụi nhỏ đến thăm ông, chúng bước vào nhà với vẻ ngượng ngập, im phăng phắc. Cha mẹ thúc mãi, chúng mới lí nhí: “Chào ông nội”, hoặc đôi khi là “Hello ông”. Tôi phải bật máy trợ thính loại tốt nhất mới nghe được. Chúng nhận quà, nói cảm ơn, rồi ngồi bấm điện thoại hoặc chơi với nhau, chẳng mấy khi chủ động nói chuyện với tôi. Tôi hỏi, chúng trả lời ngắn gọn. Tôi kể chuyện, chúng nghe được vài câu rồi lại mất tập trung.
Tôi nhìn sang những đứa trẻ Úc hàng xóm: chúng chạy ùa vào lòng ông bà, ôm hôn rối rít, hỏi han đủ chuyện. Nhưng với cháu mình, tôi tự hỏi: “Sao lại vậy? Lỗi tại ai? Tại tôi? Tại con tôi? Hay tại xã hội này?”
Nhiều đêm tôi trằn trọc. Rồi tôi đọc được một nghiên cứu của Đại học Melbourne về sự gắn kết giữa các thế hệ trong gia đình di dân. Họ nói rằng trẻ em sinh ra ở môi trường đa văn hóa thường chịu ảnh hưởng mạnh từ
văn hóa chủ đạo – ở đây là văn hóa Úc – nơi đề cao tính độc lập, quyền riêng tư và ranh giới cá nhân. Trẻ con Úc được dạy từ nhỏ rằng không nên ôm hôn người lớn nếu không thoải mái, không nên nói chuyện quá nhiều với người mà chúng không thân thiết. Trong khi đó, văn hóa Việt Nam lại xem sự gần gũi thể xác – ôm, hôn, ngồi
sát bên – là biểu hiện tự nhiên của tình thân. Hai hệ giá trị ấy va vào nhau, và đứa trẻ Việt sinh ở Úc đứng giữa, không biết nên nghiêng về đâu.
Một nghiên cứu khác của Viện Gia đình Úc (AIFS) chỉ ra rằng trẻ em di dân thường có “khoảng cách văn hóa” với ông bà, nhất là khi ông bà không nói tiếng Anh tốt. Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là cầu nối cảm xúc. Khi cầu nối ấy yếu, tình cảm khó mà sâu. Tôi đọc mà thấy chạnh lòng. Tôi biết tiếng Anh của mình không khá, nên mỗi lần nói chuyện với cháu, tôi phải lựa từ, nói chậm, sợ chúng không hiểu. Nhưng hóa ra chính điều đó khiến chúng thấy xa cách.
Tôi cũng tự trách con cái mình. Chúng bận rộn với công việc, với cuộc sống ở xứ người. Chúng dạy con theo cách của người Úc, ít khi nhắc đến truyền thống “kính lão đắc thọ”, “tôn trọng người lớn tuổi”. Trong Kinh Thánh,
Chúa dạy “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi”, còn trong đạo Phật, chữ hiếu được đặt lên hàng đầu. Vậy mà hình như trong cuộc sống hiện đại, những lời dạy ấy bị lãng quên. Không phải vì chúng cố tình quên, mà vì chúng bị cuốn vào guồng quay của xã hội mới, nơi mọi thứ đều nhanh, đều thực dụng, đều ưu tiên sự tiện lợi hơn truyền thống.
Nhưng rồi tôi lại nghĩ: trách móc để làm gì? Tôi cũng phải nhìn lại chính mình. Tôi có thật sự hiểu thế giới của tụi nhỏ không? Tôi có cố gắng bước vào cuộc sống của chúng, hay chỉ mong chúng bước vào thế giới cũ kỹ của tôi? Tôi có học cách dùng điện thoại, chơi trò chơi, xem hoạt hình để nói chuyện với chúng không? Hay tôi chỉ biết
kể chuyện xưa, chuyện mà chúng chẳng có liên hệ gì?
Tôi nhớ một nghiên cứu tâm lý của nhà xã hội học Mỹ Glen Elder, người nói rằng “mối quan hệ giữa các thế hệ chỉ bền chặt khi cả hai bên cùng thích nghi”. Ông bà không thể chỉ đứng yên và mong cháu chạy đến. Ông bà cũng phải bước tới, phải thay đổi, phải mở lòng.
Tôi bắt đầu thử. Tôi nhờ con cài ứng dụng dịch tiếng Việt – tiếng Anh. Tôi học vài câu tiếng Anh đơn giản để hỏi thăm cháu. Tôi xem chương trình hoạt hình mà chúng thích, để khi gặp có chuyện nói. Tôi không ép chúng ôm hôn, không trách chúng lạnh nhạt. Tôi chỉ kiên nhẫn, nhẹ nhàng, và cố gắng hiện diện theo cách mà chúng cảm thấy thoải mái.
Và rồi, một ngày nọ, đứa cháu gái tám tuổi của tôi – đứa ít nói nhất – khi ra về đã quay lại, nói nhỏ: “Bye ông, see you next week”. Nó không ôm tôi, nhưng nó mỉm cười. Nụ cười ấy làm tôi ấm cả buổi chiều.
Tôi hiểu rằng tình cảm ở Úc không giống Việt Nam. Nó không ồn ào, không bộc lộ bằng ôm hôn hay quấn quýt. Nó lặng lẽ, từ tốn, và cần thời gian. Trẻ con ở đây được dạy tôn trọng ranh giới cá nhân, nhưng điều đó không có
nghĩa chúng không thương ông. Chúng chỉ thương theo cách của chúng.
Tôi cũng hiểu rằng tình cảm không thể đo bằng cường độ biểu hiện, mà bằng sự hiện diện. Chỉ cần chúng chịu đến thăm, chịu ngồi cùng bàn ăn, chịu nghe tôi nói vài câu – dù ngắn ngủi – là đã có một sợi dây được nối. Sợi dây ấy có thể mảnh, nhưng nếu tôi kiên nhẫn, nó sẽ dày lên theo năm tháng.
Tôi không còn buồn như trước. Tôi không so sánh nữa. Tôi không mong cháu mình giống cháu người Úc, cũng không mong chúng giống cháu ở Việt Nam. Tôi chỉ mong chúng lớn lên tử tế, biết yêu thương theo cách của chúng, và biết rằng ông nội – hay ông ngoại – luôn ở đây, luôn mở cửa, luôn chờ đợi.
Và tôi tin rằng, một ngày nào đó, khi chúng trưởng thành hơn, khi chúng hiểu giá trị của gia đình, chúng sẽ tự tìm về. Tình cảm ông cháu, dù có lúc nhạt, nhưng nếu được vun đắp, sẽ không bao giờ mất.
R. N.
(viết riêng cho Dân Việt News)
