Trong cuộc sống, người Việt thường canh cánh bên lòng nhiều mối lo. Trước hết là lo chuyện “cơm áo gạo tiền”, lo nơi ăn chỗ ở, lo nuôi nấng con cái, lo dựng vợ gả chồng cho con cái, lo phụng dưỡng cha mẹ già và cuối cùng lo chuyện hậu sự!


     Sống nơi hải ngoại như tại Úc, nhiều thứ lo trở nên nhẹ gánh vì “Ông Nhà nước” đã gồng mình đứng ra lo tất tật.
       • Chuyện học hành của con cái, từ mẫu giáo tới tốt nghiệp trung học, hoàn toàn miễn phí.
       • Ốm đau, bệnh tật có bác sĩ gia đình (GP), nhà thương công chăm sóc tận tình – khỏi lâm cảnh chạy tiền nhập viện hoặc ai ra vào bệnh viện chăm nuôi?
       • Khi thất nghiệp có trợ cấp “đủ sống”, có Centrelink giúp tìm kiếm việc làm.
       • Bị tai nạn trở nên tàn tật, có bảo hiểm bồi thường bằng không có công quỹ cấp để sống.
       • Khi tới tuổi hưu thì cứ nghỉ; nếu tiền đóng vào quỹ hưu bổng dồi dào thì nhận đó để an vui tuổi già; bằng không, lãnh trợ cấp tuổi già vẫn dư để về VN thăm “em út”.
       • Về già sức yếu, tật này bệnh nọ… cũng chẳng sao… quỹ hỗ trợ của chính phủ sẽ cung cấp nhân viên tới nhà chăm sóc! Thậm chí ngay con ruột hoặc người thân cũng nhận được tiền công do chính phủ trả nếu “chăm sóc, nuôi nấng” người già yếu thân yêu của mình!
       • Và cuối cùng… lâm chung thì sao? Nếu đang hưởng trợ cấp và trong tài khoản ngân hàng có có gì thì Centrelink có thể giúp tiền hỏa thiêu!


     Chuyện hậu sự của một kiếp người chắc chắn là do người sống quyết định; chứ còn đã “nhắm mắt xuôi tay” thì biết gì nữa mà muốn thế vầy, muốn thế nọ.


     Nhưng, không đơn giản thế. Tang lễ của người Việt tại nước ngoài có một “quá trình lịch sử” theo chiều dài thời gian xa xứ nay đã đạt mốc nửa thế kỷ.


     Từ nghi thức kỉnh kiềng
     Trong những năm đầu của cuộc di dân vĩ đại, nếu chẳng may cụ nào qua đời, dẫu cho con cái bấy giờ chưa thành đạt, nhưng người thân vẫn lo chuyện “ma chay” tươm tất. Họ chọn quan tài đẹp, chọn địa điểm chôn cất cao ráo nơi nghĩa trang gần khu vực sinh sống; tổ chức ba, bốn nghi lễ nào là phát tang, viếng quan, đến cầu nguyện tại thánh đường hay chùa chiền, nơi tiễn chân, khi chôn cất. Ở “trạm” nào cũng đông người tham dự, cũng tiếng khóc sụt sùi, cũng lời nghẹn ngào thương tiếc! Mỗi con người, đến khi mất đi, xem ra lại là giây phút
quý báu nhất!

 

     Người trong tang quyến tập trung đông đủ, theo thứ bậc mà để tang. Những dải vải trắng xếp ngay thẳng đặt trên khay được các vị lãnh đạo tinh thần như linh mục hay mục sư, đại đức hoặc thượng tọa cầm lấy từng khăn, trao cho từng người – đôi khi thắt cho từng người, giữa lúc những người tham dự đứng yên lặng trong sự ngậm ngùi thương cảm. Tỏ lòng thương tiếc, nhớ nhung và biết ơn người “quá cố”, con cháu theo sau xe tang ra tận nghĩa trang để thả hoa tươi, rải cát mịn xuống huyệt mộ khi quan tài nằm yên trong lòng đất. Sau nghi lễ chôn cất, họ bịn rịn trở về nhà mà vành khăn tang vẫn mang trên đầu… và rồi ăn uống “mâm cao, cỗ đầy” cùng người quen biết đã dự phần chia buồn, tiễn chân được mời về hay mời đến! Đúng là một tang gia như thời còn ở Việt Nam.


     Vài chục năm đầu, cụ nào cũng có mồ yên mả đẹp. Giá một ô đất hơn hai thước vuông trong nghĩa địa chỉ khoảng 250 đô, công đào huyệt không quá $70, nhà quàn Tây tính chi phí chừng dưới ngàn đô gồm cả quan tài. Mỗi đám tang cũng thường nhận phúng điếu - cách góp phần hay trả ơn của người Việt – không có ai e ngại.


     Ngày giỗ đầu của những tang chế nơi “đất khách quê người” trong 10 năm sau biến cố 1975 hầu như được tổ chức tươm tất, khách khứa đông đủ. Sư thầy hay cha cố có mặt làm chủ lễ - thậm chí có vị còn tuyên bố “Cỗ càng lớn, ơn phước càng nhiều”. Ấy cũng bởi vào thời gian “chân ướt chân ráo tị nạn”, hàng quán ẩm thực truyền thống Việt chưa có hoặc nếu có thì chỉ gồm những đầu bếp bất đắc dĩ nên hương vị lạt lẽo, chán phèo! Có được cơ hội ăn nhậu với nhau tại nhà là “khoái bí tỉ”.
 

     Đến đám tang đơn giản
     Sau 50 năm, mọi thứ đổi thay đến choáng ngộp! Một vuông đất để chôn người quá vãng tại nghĩa trang gần đô thị lên tới 30 ngàn đô, xa hơn 50 cây số cũng dăm ngàn – mỗi tấc đất rõ là một thỏi vàng. Đó là chưa kể, những người tin vào phong thủy có thể phải trả trên $70,000 (bảy chục ngàn đô!). Ấy là, nhóm đầu tư mộ huyệt mua nguyên khu đất lớn trong nghĩa trang… Tây rồi họ cho đào hồ, đào rãnh có nước chảy, dựng tượng thần linh, mô hình yểm tà ma quỷ quái, lát gạch lối đi… làm mẫu vài “ngôi mộ” xem “mát mắt”… chia lô các ô đất từng
khu lớn, nhỏ và cứ thế nhận tiền theo “sức” của khách hàng đặt mua huyệt mộ!


     Tiền đào huyệt không có cái giá $100, bây giờ phải trên $3,000, cộng thêm tiền “boa”, bằng không họ dùng dằng không chịu lấp huyệt ngay hoặc chở đất sét pha lẫn sỏi, đá cho xe xúc đổ xuống nghe ầm ầm – quan tài rẻ tiền có thể bị bẹp! Đau lòng quá!


     Chi phí đám tang tăng từ dưới một ngàn lên quá $10,000. Thậm chí tay nắm gắn hai bên quan tài cũng là một phần phải trả giá khác nhau: Tay nắm nằm cố định rẻ hơn tay nắm chuyển dịch.


     Thiệp báo tang, khung ảnh lồng di ảnh, sổ ký tên lưu niệm cho khách viếng quan ghi vài hàng chữ chia buồn, thời lượng mở cửa nhà quàn cho viếng quan, ngày chôn cất (thứ bảy khác giá ngày trong tuần)… đều là những “món” mà nhà quàn có thể tính thêm lợi nhuận nếu tang gia bối rối không dự định trước.


     Định cư lâu ngày, nay con cháu đều thành đạt với tiền bạc dư thừa, nhà cao cửa rộng, xe xịn bóng loáng, nhưng đa số thấy choáng trước chi phí đám tang. Do vậy, nhiều tang gia “theo lời trăn trối” nên hỏa táng thay vì chôn cất rình rang. Hoàn tất một đám tang hỏa tang, tổng cộng từ A đến Z không quá $7,000 – có nơi chỉ tính $5,000. Và rẻ nhất là trao nhà quàn nhận thi thể từ nhà thương rồi âm thầm đi hỏa táng, chi phí dưới 4 ngàn đô! Nếu đo bằng tiền, lòng người sống hầu như mỗi lúc một tệ!


     Nào đã vậy thôi, tang quyến không nhận tiền phúng điếu – điều này cũng phải – nhưng lại còn không nhận vòng hoa thì cần xét lại. Tiền là giúp người sống, nhưng hoa là tiễn người quá vãng, sao lại không nhận? Một đám tang càng nhiều tràng hoa bao nhiêu, lòng thương tiếc càng lớn bấy nhiêu - người qua đời hẳn sẽ mỉm cười trong quan tài.


     Cũng là bây giờ, người ta quan niệm “đáng tang không tiếng khóc là tốt”. Thật vậy ư? Nhưng cái mà “đơn giản nhất” cần phải nghĩ lại đó là việc để tang. Đội tang, thắt tang là nét văn hóa đẹp của người Việt, là truyền thống đặc trưng nói nên tình cảm sâu đậm, sự thương nhớ và lòng biết ơn đối với người thân của dân tộc Việt. Nay ở nước ngoài, việc này đã đơn giản tới mức gài một cái nơ, một miếng vải bằng hai ngón tay trên ve áo và rồi vội
gỡ ra bỏ lên nắp quan tài để đốt hay vứt xuống lòng huyệt để chôn. Thế thì có nghĩa gì đây… nên rồi, có tang gia chẳng đeo gì hết…kết lại, nhà có người qua đời chẳng còn phải là… tang gia!


     Còn một điều nữa, người sống có thể đã “phịa” ra lời “căn dặn” của người quá cố để tổ chức đám tang theo ý muốn riêng. Thậm chí, có cụ ky ca ky cóp, nhịn ăn tô phở, món quà vặt để mua cho mình một ô đất từ vài ba chục năm trước “phòng hậu sự khỏi phiền con cháu”, nay “theo lời cụ nói lúc lâm chung”, con cháu đem hỏa thiêu cụ v ô đất kia nay bán lại trên 20 ngàn đô sẽ về ai!


Đám tang nay mất chữ “gờ” và trở thành đám “tan”! Đời sống vật chất lên cao, “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” đi xuống. Thật sao? Buồn thế ư?
Người Sydney